Những giả thuyết khác trong các tác phẩm hình học hiện đại đã lấp đầy sự thiếu hụt này. Một tác phẩm triết học lý thuyết hay thì không cần có yếu tố hùng biện và tuyên truyền. Người đó có thể chỉ ra phần nào của cuốn sách sử dụng các từ tác động đến cảm xúc.
Nhưng nếu vậy có thể bạn phải mất nhiều tháng, nhiều năm mới hoàn thành xong. Nhưng liệu việc sử dụng một từ với nhiều nghĩa khác nhau có phải là dùng từ một cách mập mờ không? Và các tác giả có hay sử dụng nhiều nghĩa khác nhau của một từ, đặc biệt là các từ quan trọng không? Immanuel Kant, đã đi theo phương thức của Aristotle mặc dù về phương diện triết học ông chịu ảnh hưởng của Plato nhiều hơn.
Khi đó, bạn đã đạt được sự thống nhất về thuật ngữ với tác giả. Cuối cùng, bạn cần đọc những hàm ý khi nó đã được cô đọng thành thục. Nếu một cụm từ có thể đảm nhận vai trò chủ ngữ hoặc vị ngữ trong câu, thì nó cũng giống như một từ đơn lẻ.
Chúng tôi nghĩ rằng khi tuân theo hai quy tắc này, độc giả nào cho rằng mình không thể đọc được thơ sẽ thấy mọi chuyện dễ dàng hơn. Thuyết thần học tự nhiên là một bộ phận của triết học, là chương cuối cùng trong thuyết siêu hình. Anh ta cần chú ý đến sự khác biệt giữa kiến thức thực tế và quan điểm cá nhân cũng như chú ý đến tác giả.
Nhìn nhận điều này, chúng ta thấy rằng hạnh phúc không phải cốt ở sự tự hoàn thiện, mặc dù đây chính là điều quan trọng nhất trong những điều tốt đẹp. Thường các tác giả sẽ giúp ta nhận biết điều này. Có thể bạn đã đọc Hiến pháp Mỹ nhiều lần, nhưng bạn chưa áp dụng quy tắc này lần nào thì bạn sẽ thấy việc áp dụng nó giúp bạn thấy được nhiều điều hơn về Hiến pháp Mỹ.
Nhưng đôi khi, việc thiếu các bước này lại gây ra nhầm lẫn hoặc thậm chí bị hiểu nhầm. Người ta cho rằng các câu hỏi hạng nhất là những câu hỏi ít người quan tâm. Hầu hết mọi người được dạy là phải chú ý đến những điều mình không hiểu; phải tra từ điển khi gặp lại những từ lạ; tìm trong sách tham khảo nếu gặp những nhận định khó hiểu; tìm sự trợ giúp ở phần ghi chú, giải thích của các học giả hay các nguồn hỗ trợ khác… nhưng nếu vội vàng làm những điều này thì chúng chỉ ngăn cản chứ không giúp gì cho việc đọc của chúng ta.
Đúng là anh ta tạo ra một thế giới mới, nhưng thế giới đó không nhất thiết phải hoàn toàn khác biệt với thế giới chúng ta đang sống. Đọc một cuốn sách khoa học, chúng ta thường chú ý tới những phát hiện nhờ kết luận thuộc một số lĩnh vực được nghiên cứu thử nghiệm trong phòng thí nghiệm hoặc nhờ cách quan sát bản chất hiện tượng. Ngoài ra, còn có những cuốn tiểu sử không thuộc hai loại trên.
Chuẩn bị về mặt trí tuệ tức là làm sao để trẻ có thể tiếp thu, nhớ nguyên một từ và những chữ cái tạo nên từ đó. Một độc giả ít nhiều phải có kiến thức ngữ pháp. Đối với tác giả, chưa chắc đã là những câu thật sự quan trọng nhất nhưng khả năng đó hoàn toàn có thể xảy ra, vì những ý quan trọng nhất mà tác giả muốn bày tỏ chắc hẳn sẽ là những phần mà bạn thấy khó hiểu nhất.
Đặc điểm này đi kèm với một sự bắt buộc. Được xuất bản lần đầu tiên năm 1940, ngay lập tức, Đọc sách như một nghệ thuật đã trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất và duy trì vị trí đó trong suốt hơn một năm. Để có thể đọc tốt, độc giả năng động và khó tính cần phải thực hiện một số hành động nhất định.
Bất đồng loại này cũng có thể giải quyết được bằng cách hướng dẫn để thu hẹp khoảng cách chênh lệch về kiến thức. Không cần thiết phải nhắc bạn rằng đây là cuốn sách thực hành, tức là, người đọc sách này phải bắt buộc làm theo nó. Ví dụ, Darwin không có những hiểu biết về di truyền học nên ông đã bỏ qua bộ máy di truyền trong cuốn Nguồn gốc các loài.