Ví dụ, nếu bạn nói mọi người đều bình đẳng, chúng tôi có thể nghĩ là bạn cho rằng khi sinh ra, ai cũng được tạo hoá ban cho trí thông minh, sức khoẻ và những khả năng khác hoàn toàn như nhau. Ví dụ, trong vở Hamlet, hồi II, cảnh ii, Polonius thông báo cho đức vua và hoàng hậu rằng hoàng tử Hamlet đã hoá điên vì yêu Ophelia cô gái đã từ chối những lời tỏ tình của chàng. Thứ nhất là các luận cứ.
Sau đó, họ chỉ nhấn nút và phát lại chính kiến đó khi nào thấy thích hợp. Bạn không thể hành động một cách chung chung. Thiên kiến có thể xen vào bất cứ lúc nào, dù biểu hiện chỉ là mơ hồ nhất qua cách tóm tắt các luận điểm, nhấn lướt các ý, qua giọng điệu đặt câu hỏi hoặc màu sắc đậm nhạt của một điểm ta lưu ý hay qua trình tự trình bày các câu trả lời cho những câu hỏi trọng tâm.
Nhưng có nhiều cách kể khác nhau nên chúng ta phải biết sử gia đã chọn cách nào để kể câu chuyện của ông ấy. Chúng ta chỉ nên phê bình khuyết điểm này nếu nó làm ảnh hưỏng tới kết luận chính vì một cuốn sách có thể thiếu thuyết phục ở những điểm không quan trọng. Nhưng vì các tác giả không ai giống ai nên ta phải tiến hành bước tiếp theo.
Chúng hữu ích vì thứ nhất, chúng có thể nhắc bạn nhớ lại nội dung một cuốn sách mà bạn đã đọc. Những bất đồng này rất khó nhận biết và gần như không thể mô tả chúng bằng lý lẽ. Cấp độ đọc thứ ba chúng tôi gọi là đọc phân tích.
Thứ ba, viết ra những phản ứng của bạn giúp bạn nhớ những suy nghĩ của tác giả. Chúng tôi cũng xin lưu ý rằng, nhu cầu đọc sách trong mối liên hệ qua lại được áp dụng vào đọc sách lịch sử và triết học nhiều hơn là đọc sách khoa học và viễn tưởng. Liệu cuốn sách có hướng tới những đối tượng mà mọi người đều biết và bạn có nằm trong nhóm đối tượng đó không? Liệu nhóm người đó có thể nhanh chóng giải quyết tình huống mà tác giả đặt ra không? Hay mọi người đều có thể giải quyết vấn đề đó? Nếu bạn không nằm trong nhóm đối tượng mà cuốn sách hướng tới, có thể bạn sẽ không muốn đọc nó nữa.
Vì thế, bạn luôn phải nhớ đi tìm sự thống nhất giữa các phần của cuốn sách cuối cùng vẫn là nhiệm vụ của người đọc. White từng nói: Một tên bạo chúa sẽ không sợ những nhà văn có tài hùng biện giảng giải về tự do, mà sợ một nhà thơ say rượu có thể bày ra những trò đùa làm lộ chân tướng của sự việc. Các nhà biên soạn từ điển có thể được mọi người kính trọng vì họ là chuyên gia về cách sử dụng từ, nhưng họ không phải là người tạo ra nền tảng của sự hiểu biết.
Những người đã có kinh nghiệm thực tế và thực hành sẽ thấy dễ dàng hơn khi đọc các loại sách khoa học cổ. Một nhân chứng không thể giả sử bất cứ điều gì, cũng không thể đoán, đưa ra giả thuyết hay ước chừng (trừ trong những điều kiện được giám sát rất cẩn thận). Cuốn The Charterhouse of Parma (Nhà tế bần ở Parma) của Stendhal cũng viết về cuộc xung đột, các cuộc chiến của Napoleon như trong tiểu thuyết của Tolstoy.
Hãy nhớ là không có tivi hay phương tiện giải trí gì trên đảo, cũng không có thư viện cho mượn sách về, chỉ có bạn và mười cuốn sách thôi. Và thỉnh thoảng, các đoạn của cùng một tác giả bình luận về các bài của một tác giả khác lại giúp người đọc hiểu thêm về tác giả có bài được bình luận kia. Tương tự, tác phẩm How We Think (Chúng ta nghĩ như thế nào) của Dewey cũng không phải là một sự phân tích hoàn chỉnh về quá trình suy nghĩ của con người.
Nhưng một số nhà khoa học xã hội cho rằng rất nhiều nhà báo và phóng viên đã khiến khái niệm này phải làm quá nhiều việc. Khi bạn thấy các từ được liệt kê có vẻ quan trọng, hãy tìm ít nhất vài đoạn đã được trích dẫn (chúng tôi sẽ nói kỹ thêm về các từ quan trọng trong Phần hai. Tuy nhiên, điều này vẫn có thể làm được, và những ai làm được nó sẽ học được cách đọc tốt hơn.
Một người đọc truyện giỏi sẽ không thắc mắc về thế giới do tác giả tạo ra. Đây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm. Các nhà triết học khác như Cicero và Berkeley cũng đã cố gắng dùng đối thoại nhưng không mấy thành công.